...

TTV Nguyễn Quốc Vinh: Nghiên cứu và kiến nghị cân nhắc loại bỏ các quy định chung về hợp đồng trong Luật Thương mại

11 Tháng 2, 2026

Dưới đây là nghiên cứu sơ lược và khuyến nghị của TS. LS. Nguyễn Quốc Vinh về việc bỏ đi các quy định chung về hợp đồng tại Luật Thương mại 2005, thay vào đó sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

1. Lịch sử và xu hướng thế giới

1.1. Lịch sử về sự tách biệt giữa Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại

Các quốc gia theo truyền thống luật dân sự (civil law tradition) về mặt lịch sử thường sẽ tồn tại song song cả hai Bộ luật dân sự (“BLDS”) và Bộ Luật Thương Mại (“BLTM”). Thực tiễn này không phải bắt nguồn từ truyền thống Luật La Mã. Ngược lại, nó mang tính đặc thù của mỗi quốc gia. Dưới đây là một số quốc gia tiêu biểu: [1]

Như vậy, có thể thấy, sự ra đời của BLTM không có nền tảng chung. Ngược lại, ngoài tính chung là chứa đựng các quy định phù hợp hơn cho thương nhân tại thời kỳ kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nó mang đặc thù của mỗi quốc gia (như được nêu trên).

1.2. Xu hướng hợp nhất

Thế kỷ 20 chứng kiến sự đảo ngược đáng kể xu hướng tách biệt giữa BLDS và BLTM khi nhiều quốc gia nhận thấy rằng sự phân mảnh giữa luật dân sự và luật thương mại tạo ra sự phức tạp không cần thiết và sự không chắc chắn về mặt pháp lý (legal uncertainty). Hệ quả tiêu cực chính của sự tách biệt gồm:

  • Khó khăn trong việc phân biệt giữa giao dịch dân sự và giao dịch thương mại trong nền kinh tế hiện đại; và

  • Đạo luật riêng cho thương nhân được coi là “thiên vị”, “phi dân chủ”, trái với tinh thần bình đẳng giữa các chủ thể.

 Thay vào đó, việc áp dụng một bộ luật duy nhất (code unique) sẽ mang đến các ích lợi lớn. Cụ thể như sau:

  • Mang lại sự bình đẳng của các chủ thể (cá nhân và pháp nhân) trong giao dịch;

  • Sự chắc chắn về mặt pháp lý: Loại bỏ các tranh chấp liên quan đến việc xác định bản chất một giao dịch;

  • Bảo đảm về kết cục của tranh chấp: Không còn các quy định xung đột mang đến hậu quả khác biệt giữa các bộ luật; và

  • Giảm chi phí giao dịch: Đơn giản hóa hệ thống pháp luật cho dân thường, doanh nghiệp vừa và nhỏ và nhà đầu tư nước ngoài dễ áp dụng. [3]

Vì các lý do trên, nhiều quốc gia đã thực hiện việc gộp BLTM vào BLDS. Có thể kể ra như sau: (i) Thụy Sĩ, năm 1907; (ii) Ý, năm 1942; (iii) Nga, năm 1996; và (iv) Bra-xin, năm 2002. [4]

2. Trường hợp của Việt Nam

2.1. Nguyên nhân tách biệt

Không có tài liệu nào phân tích rõ ràng lý do của sự tách biệt của Bộ luật Dân sự (các năm 1995, 2005 và 2015) với Luật Thương mại (các năm 1997 và 2005). Tuy nhiên, lý do có thể bao gồm như sau:
  • Sự kế thừa truyền thống luật dân sự của Việt Nam; và

  • Sự phân biệt về mặt lịch sử giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự từ nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây.

2.2. Các khác biệt cơ bản

Sự tồn tại của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đã mang đến các quy định (và hậu quả) khác biệt và xung đột với nhau. Các quy định chung áp dụng cho các loại hợp đồng giữa Bộ luật Dân sự 2015 (“BLDS 2015”) và Luật Thương mại 2005 (“LTM 2005”) có xung đột có thể kể ra như sau: [5]

Trên đây là các điểm khác biệt lớn trong các quy định chung về hợp đồng tại BLDS 2015 và LTM 2005. Từ sự khác biệt này cùng với việc khó khăn trong việc xác định loại hợp đồng (dân sự hay thương mại) đã khiến cho việc áp dụng pháp luật trở nên khó khăn. Nói cách khác, Việt Nam cũng đối diện với chính xác các vấn đề về sự tách biệt/khác biệt giữa BLDS và BLTM của các nước khác như được phân tích tại Mục 1.2. Ngoài ra, Việt Nam còn mắc phải vấn đề về xung đột giữa các khái niệm như được nêu tại bảng trên.

3. Kết luận và khuyến nghị

Dựa vào các phân tích trên, một số kết luận và khuyến nghị được đưa ra như sau:
  • Trước mắt, để tránh quá nhiều xáo trộn, Việt Nam cần nghiên cứu để bỏ đi các quy định chung về hợp đồng của LTM 2005 (bao gồm tối thiểu các điều khoản nêu tại Mục 2.2) để bảo đảm tính chắc chắn của các quy định pháp luật và các ưu điểm khác trong việc áp dụng một bộ luật duy nhất như nêu tại Mục 1.2 trên; và
  • Cũng về các ưu điểm của việc áp dụng một bộ luật duy nhất, về lâu dài, Việt Nam cần nghiên cứu để bỏ đi Luật Thương mại. Hiện tại có rất nhiều các loại hợp đồng cùng được điều chỉnh bởi hai văn bản quy phạm pháp luật này (ví dụ: hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thuê, hợp đồng gia công v.v.) Các quy định của Luật Thương mại nên đưa vào Bộ luật Dân sự hoặc các luật liên quan.


[1]           Xem Johanne W Flume trong bài viết “Law and Commerce: The Evolution of Codified Business Law in Europe” (Pháp Luật Và Thương Mại: Sự Phát Triển Của Luật Thương Mại Được Pháp Điển Hóa Tại Châu Âu) đăng tại Tạp chí Comparative Legal History (Lịch Sử Pháp Luật So Sánh) số 2 năm 2014 tại các trang 46 – 84, có sẵn tại: https://www.researchgate.net/publication/262924090_Law_and_Commerce_The_Evolution_of_Codified_Business_Law_in_Europe(truy cập lần cuối ngày 03/02/2026).

[2]           Trước đó là các luật, bộ luật và/hoặc sắc lệnh liên quan rồi được hiệu chỉnh để trở thành các bộ luật hiện tại.
[3]           Xem nội dung về bất cập của sự phân tách các bộ luật và xu hướng nhất nguyên (code unique) được phân tích trên tại bài viết “Code Unique” (Nhất Nguyên Bộ Luật) của tác giả Jan Peter Schmidt tại https://max-eup2012.mpipriv.de/index.php/Code_Unique (truy cập lần cuối ngày 03/02/2026) và công trình nghiên cứu “European Commercial Contract Law” (Pháp Luật Hợp Đồng Thương Mại Châu Âu) của tác giả Bertolini Andrea nghiên cứu cho Ban Chính Sách Về Quyền Công Dân Và Các Vấn Đề Hiến Pháp (Policy Department for Citizens' Rights and Constitutional Affairs) thuộc Nghị viện Châu Âu, có sẵn tại: https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/STUD/2023/753420/IPOL_STU(2023)753420_EN.pdf (truy cập lần cuối ngày 04/02/2026).   
[4]           Xem Schmidt, tlđd.
[5]           Ở đây không kể đến các khác biệt nhỏ tại từng loại hợp đồng hay loại giao dịch cụ thể (ví dụ mua bán) giữa BLDS 2015 và LTM 2005.
[6]           Điều 428 BLDS 2015.
[7]           Nt., Điều 423. “Vi phạm nghiêm trọng” được định nghĩa “là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.”
[8]           Điều 310 và 311 LTM 2005.
[9]           Nt., khoản 13 Điều 3. “Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” được định nghĩa “là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.”
[10]         Điều 360 và 419 BLDS 2015.
[11]         Khoản  2 Điều 302 LTM 2005.
[12]         Khoản 2 Điều 418 BLDS 2015.
[13]         Nt., khoản 3 Điều 418.
[14]         Điều 300 và 301 LTM 2005.
[15]         Nt., Khoản 2 Điều 307.
[16]         Điều 357 và 468 BLDS 2015.
[17]         Điều 306 LTM 2005.
[18]         Điều 429 BLDS 2015.
[19]         Điều 319 LTM 2005.
 
>>> Nguồn: Scientia Law Firm

Tin liên quan

  • Trường Đại học Luật Tp.HCM
    VCCI
    VIBOnline
    Trường đại học ngoại thương
    Trường Đại Học Luật
    VCCI